CHỒNG VAY TIỀN ĐỂ MỞ CỬA HÀNG KINH DOANH, VỢ CÓ PHẢI TRẢ NỢ?
*Bạn đọc hỏi: chị Lê Thị Bính, trú Q.Cẩm Lệ (TP Đà Nẵng), hỏi: Đầu năm 2019, chồng tôi vay một khoản tiền 600 triệu đồng từ một người bạn để mở cửa hàng kinh doanh trái cây tươi nhỏ mà tôi hoàn toàn không hay biết gì về khoản vay này. Tôi không có tham gia trong hoạt động kinh doanh với chồng. Đến cuối năm 2023, do kinh doanh không hiệu quả, chồng tôi gặp khó khăn trong việc trả nợ nên người bạn đó tìm gặp và yêu cầu tôi phải trả khoản nợ của chồng tôi. Trong trường hợp này, tôi có phải chịu trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ đó hay không?
*Luật sư Đặng Văn Vương – Phó trưởng Văn phòng Luật sư Phong & Partners, trả lời:

Theo Từ điển Tiếng Việt, “liên đới” là “có sự ràng buộc lẫn nhau (thường về mặt trách nhiệm)”. Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ liên đới như sau: “Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Có thể hiểu “trách nhiệm liên đới” là trách nhiệm của hai hay nhiều người cùng phải thực hiện vì lợi ích của người khác theo sự thoả thuận trong giao dịch, hợp đồng hoặc theo các căn cứ do pháp luật quy định.
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng được hiểu là cả vợ và chồng sẽ phải cùng chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hành vi, giao dịch của một hoặc cả hai bên.
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ, chồng như sau:
Điều 27.Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng
1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.
2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.
Khoản 1 Điều 30 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình
1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình (Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình).
Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình quy định như như sau:
“Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;”
Đối với trường hợp của vợ chồng chị, theo thông tin chị cung cấp, chồng chị đã vay 600 triệu đồng từ bạn bè để phục vụ cho hoạt động kinh doanh riêng mà chị không hay biết về khoản vay này. Để xác định chị có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ này hay không thì cần xem xét hai trường hợp như sau:
Trường hợp 1: Khoản nợ được xác lập bởi chồng chị nhưng trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hoặc tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Nghĩa là chồng chị đã sử dụng khoản tiền vay để chi trả cho chi phí sinh hoạt, chi tiêu cho con cái, các nhu cầu khác của gia đình hoặc chồng chị sử dụng khoản tiền vay vào hoạt động kinh doanh để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gỉa đình. Trong trường hợp này, khoản nợ này được xác định là nợ chung, do đó chị phải có nghĩa vụ liên đới cùng chồng trả khoản nợ này.
Trường hợp 2: Trong trường hợp chồng chị sử dụng khoản vay này cho mục đích riêng (không phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu của gia đình) hoặc kinh doanh riêng nhưng không tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho gia đình thì khoản nợ này sẽ được xác định là nợ riêng của chồng chị. Theo đó, chị không có nghĩa vụ phải cùng chồng thanh toán khoản nợ này.
Tóm lại, việc xác định trách nhiệm liên đới của chị đối với khoản vay 600 triệu đồng của chồng phụ thuộc vào mục đích sử dụng khoản vay và mối liên hệ của nó với các nhu cầu thiết yếu hoặc lợi ích chung của gia đình. Do đó, chị cần thu thập đầy đủ thông tin, tài liệu chứng minh mục đích sử dụng khoản vay này có phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hoặc tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình hay không để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Bài viết được đăng trên Báo Công an Đà Nẵng ngày 20/01/2025.
Bài Viết Nhiều Người Xem

Tin tức liên quan
CÓ ĐƯỢC LẬP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN TRƯỚC KHI KẾT HÔN?
(LSVN) - Tôi sắp kết hôn và được khuyên là nên ký thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn để tránh rắc rối về sau, nếu chẳng may có mâu thuẫn. Tôi băn khoăn không biết như vậy có được pháp luật công nhận không, có cần công chứng hay không, và sau khi kết hôn có thể thay đổi nội dung thỏa thuận đó không? Chị Lan trú tại TP. Hồ Chí Minh hỏi.
ĐÃ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở NƯỚC NGOÀI, CÓ PHẢI ĐĂNG KÝ KẾT HÔN LẠI Ở VIỆT NAM KHÔNG?
*Bạn đọc hỏi: chị Phương, trú tại H.Hòa Vang (TP Đà Nẵng), hỏi: Tôi và chồng hiện đang sinh sinh sống tại Mỹ, tôi có quốc tịch Việt Nam, chồng tôi có quốc tịch Mỹ, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại Mỹ. Nay, vợ chồng tôi về Việt Nam cư trú thì có cần phải đăng ký kết hôn lại theo quy định của Việt Nam hay không? Nếu không, làm thế nào để chứng minh quan hệ hôn nhân của vợ chồng tôi là hợp pháp và được công nhận tại Việt Nam?
CẦN LÀM GÌ KHI BỊ NGĂN CẢN QUYỀN THĂM NOM, CHĂM SÓC CON SAU LY HÔN?
*Bạn đọc hỏi: Anh Quốc, hiện đang sinh sống tại Hội An, hỏi: Tôi và vợ cũ ly hôn được nửa năm và Tòa đã giao con trai 8 tuổi của chúng tôi cho vợ cũ trực tiếp nuôi dưỡng. Tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con và đã thực hiện đầy đủ, đúng hạn. Tuy nhiên, mỗi khi tôi liên hệ để gặp con hoặc đến thăm, vợ cũ thường từ chối, không cho tôi gặp con và còn nói những lời khó nghe. Tôi không biết vợ cũ có quyền ngăn cản tôi thăm nom và chăm sóc con sau ly hôn không? Nếu tiếp tục bị ngăn cản, tôi cần làm gì để được thăm nom con?
.png)





