CHỒNG CỜ BẠC VAY NỢ, KHI LY HÔN NGƯỜI VỢ CÓ NGHĨA VỤ TRẢ NỢ KHÔNG?
Trong cuộc sống hôn nhân, việc vay nợ là một khía cạnh phổ biến và không tránh khỏi. Có nhiều lý do khiến vợ chồng phải vay nợ, chẳng hạn như mua nhà, mua ô tô, đầu tư kinh doanh, trang trải chi phí hàng ngày, hoặc chi trả các khoản nợ khác. Vậy nếu một bên người chồng vay nợ thì khi ly hôn người vợ có nghĩa vụ trả nợ không?
1. Nợ chung là gì? Nợ chung của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân là như thế nào?
Nợ chung là những khoản nợ phát sinh từ giao dịch hằng ngày do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập hay nghĩa vụ bồi thường thiệt hại vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm; hoặc các khoản nợ phát sinh từ giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Nợ chung trong thời kỳ hôn nhân được hiểu là những khoản nợ phát sinh từ giao dịch của vợ chồng hoặc những khoản nợ đứng tên một trong hai bên vợ hoặc chồng sử dụng vì mục đích chung cho gia đình, con cái.
2. Chồng cờ bạc vay nợ, khi ly hôn người vợ có nghĩa vụ trả nợ không?
a. Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
Điều 3. Giải thích từ ngữ
“20. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.”
Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;”
Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn
“1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.”
b. Phân tích và kết luận
Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân & Gia đình 2014, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Theo đó, nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.
Từ những căn cứ pháp lý nêu trên, có thể hiểu rằng, giao dịch do một bên vợ, chồng xác lập, thực hiện nhằm mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình thì được xác định là nghĩa vụ chung. Vợ, chồng cùng phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Như vậy, trường hợp người chồng xác lập giao dịch một khoản vay nhằm mục đích cờ bạc, rượu chè hoặc các mục đích cá nhân khác (không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình) thì khoản vay này được xác định nợ riêng của người chồng. Khi ly hôn, người vợ không có nghĩa vụ liên đới trả nợ đối với khoản vay của người chồng.
Bài Viết Nhiều Người Xem

Tin tức liên quan
CÓ ĐƯỢC LẬP THỎA THUẬN VỀ TÀI SẢN TRƯỚC KHI KẾT HÔN?
(LSVN) - Tôi sắp kết hôn và được khuyên là nên ký thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng trước khi đăng ký kết hôn để tránh rắc rối về sau, nếu chẳng may có mâu thuẫn. Tôi băn khoăn không biết như vậy có được pháp luật công nhận không, có cần công chứng hay không, và sau khi kết hôn có thể thay đổi nội dung thỏa thuận đó không? Chị Lan trú tại TP. Hồ Chí Minh hỏi.
ĐÃ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN Ở NƯỚC NGOÀI, CÓ PHẢI ĐĂNG KÝ KẾT HÔN LẠI Ở VIỆT NAM KHÔNG?
*Bạn đọc hỏi: chị Phương, trú tại H.Hòa Vang (TP Đà Nẵng), hỏi: Tôi và chồng hiện đang sinh sinh sống tại Mỹ, tôi có quốc tịch Việt Nam, chồng tôi có quốc tịch Mỹ, chúng tôi đã đăng ký kết hôn tại Mỹ. Nay, vợ chồng tôi về Việt Nam cư trú thì có cần phải đăng ký kết hôn lại theo quy định của Việt Nam hay không? Nếu không, làm thế nào để chứng minh quan hệ hôn nhân của vợ chồng tôi là hợp pháp và được công nhận tại Việt Nam?
CẦN LÀM GÌ KHI BỊ NGĂN CẢN QUYỀN THĂM NOM, CHĂM SÓC CON SAU LY HÔN?
*Bạn đọc hỏi: Anh Quốc, hiện đang sinh sống tại Hội An, hỏi: Tôi và vợ cũ ly hôn được nửa năm và Tòa đã giao con trai 8 tuổi của chúng tôi cho vợ cũ trực tiếp nuôi dưỡng. Tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con và đã thực hiện đầy đủ, đúng hạn. Tuy nhiên, mỗi khi tôi liên hệ để gặp con hoặc đến thăm, vợ cũ thường từ chối, không cho tôi gặp con và còn nói những lời khó nghe. Tôi không biết vợ cũ có quyền ngăn cản tôi thăm nom và chăm sóc con sau ly hôn không? Nếu tiếp tục bị ngăn cản, tôi cần làm gì để được thăm nom con?
.png)





